Có lẽ người Trung Quốc đã quên lịch sử xâm lược thất bại của mình?

Chúng ta phải đạt được nền hoà bình chân chính – “hoà bình thực sự, hoà bình trong độc lập tự do chứ không phải là thứ hoà bình giả hiệu”. Đó là mục tiêu cao cả không chỉ riêng dân tộc Việt Nam hướng đến mà của các dân tộc đang hướng đến trong thời đại ngày nay. Thế nhưng, một nước lớn như Trung Quốc họ không nghĩ vậy.

Tại buổi họp báo ngày 16/8, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng xác nhận tàu khảo sát Hải Dương 8 và một số tàu hộ tống của Trung Quốc đã trở lại hoạt động xâm phạm vùng biển Việt Nam hôm 13/8. Đây là hành vi “tái diễn vi phạm nghiêm trọng” và Việt Nam đã có “giao thiệp” với Trung Quốc.

Tức là, ông bạn hàng xóm “khổng lồ” của chúng ta thêm một lần nữa minh chứng cho cái sự phi lý và tham vọng bành trướng của mình trên Biển Đông.

Trung quốc vẫn ngang ngược, thách thức Việt Nam và luật pháp quốc tế

Sự quay trở lại mang tính thách thức của nhóm tàu Hải Dương 8 dường như đang đẩy dư luận trong nước cảm thấy sục sôi, thấy “chướng tai gai mắt” và cũng mang lại sự bất bình nhất định cho dư luận quốc tế.

Thế nên, lần này người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã không ngần ngại chỉ thẳng: “Đây là vùng biển hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, được xác định theo các quy định của Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1982. Các lực lượng chức năng của Việt Nam tiếp tục triển khai các biện pháp thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán theo đúng pháp luật Việt Nam và luật pháp quốc tế”. Đồng thời, “Việt Nam kêu gọi các nước có liên quan và cộng đồng quốc tế đóng góp tích cực vào duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác ở Biển Đông, khu vực và quốc tế”.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao cũng cho biết thêm, Việt Nam đã giao thiệp với Trung Quốc, phản đối việc Trung Quốc tái diễn vi phạm nghiêm trọng, yêu cầu Trung Quốc rút toàn bộ nhóm tàu nói trên ra khỏi vùng biển của Việt Nam, tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán, các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Việt Nam theo Công ước của Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1982 và luật pháp quốc tế.

Trước đó, nhóm tàu này xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam ở khu vực phía Nam Biển Đông từ đầu tháng 7. Bộ Ngoại giao đã nhiều lần lên tiếng phản đối hành động này của Trung Quốc, yêu cầu Trung Quốc rút nhóm tàu Hải dương 8 ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam.

Nhiều nước như Mỹ, Nhật Bản…cũng đã lên tiếng phản đối hành vi của Trung Quốc ở vùng biển của Việt Nam. Ngày 20/7, Bộ Ngoại giao Mỹ ra thông cáo bày tỏ sự lo ngại khi Trung Quốc can thiệp hoạt động dầu khí trong khu vực, bao gồm hoạt động thăm dò và khai thác lâu nay của Việt Nam.

Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ Eliot L. Engel khẳng định: “Các hành động của Trung Quốc là hành vi vi phạm chủ quyền của Việt Nam và các quyền hợp pháp của Hà Nội trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), ngang nhiên coi thường luật pháp và ngoại giao quốc tế”.

Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ Jim Risch cùng ba thành viên cấp cao của ủy ban hôm 1/8 cũng lên án Bắc Kinh, cho rằng việc Trung Quốc đưa tàu vào EEZ của Việt Nam là bằng chứng mới nhất về việc Trung Quốc sẵn sàng áp bức để khẳng định các yêu sách bất hợp pháp ở Biển Đông.

Thực tế trên cho thấy, tuy vấn đề chủ quyền an ninh và sự ổn định của quốc gia được coi là vấn đề ưu tiên hàng đầu và cần được tôn trọng, song còn đó những thế lực mưu toan chà đạp lên nguyện vọng chính đáng đó của các dân tộc. Chủ nghĩa cường quyền mới dựa trên sự áp đặt “giá trị” và “sự răn đe” bằng quân sự trở thành một thứ công cụ nguy hiểm do các thế lực hiếu chiến đe doạ sự bình yên, hạnh phúc của các dân tộc khác.

Điều nguy hiểm hơn là chủ nghĩa cường quyền, thái độ bạo ngược của các thế lực gây chiến được che dấu bằng nhiều chiêu bài, nhiều học thuyết như “nhân quyền cao hơn chủ nghĩa”, “cây gậy và củ cà rốt”… Vì vậy nhân loại cần vạch trần bản chất xâm lược áp bức của chủ nghĩa cường quyền, mà Trung Quốc đang là kẻ thực hiện “nhiệt tình” nhất.

Có lẽ người Trung Quốc đã quên

Có lẽ người Trung Quốc đã quên dân tộc Việt Nam có lịch sử dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm. Các thế hệ người Việt Nam đã không ngừng đấu tranh để bảo vệ nền độc lập của mình mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng. Đặc biệt, cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng ta trong những năm cuối của nửa đầu thế kỷ XX mà đỉnh cao là Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã đưa Việt Nam trở thành một dân tộc tiên phong trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa.

Chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” không những là sự thể hiện một cách sinh động nhân sinh quan của dân tộc Việt Nam, mà còn góp phần thức tỉnh nhân dân lao động ở một loạt nước thuộc địa các châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh đứng lên tự giải phóng mình. Quyền được hưởng độc lập và quyết tâm bảo vệ quyền thiêng liêng đó của dân tộc Việt Nam được ông cha ta khẳng định qua bài thơ Thần của Lý Thường Kiệt – bản tuyên ngôn đầu tiên của đất nước, qua khúc khải hoàn ca Bình Ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi – có lẽ người Trung Quốc đã quên?

Rồi, một lần nữa, quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm đó được Hồ Chí Minh khẳng định một cách đanh thép: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Sở dĩ, một quốc gia bị nước ngoài thống trị và âm mưu đồng hóa trên một ngàn năm đã vùng lên và giành lại được quyền tự chủ đó chính là nhờ có ý chí độc lập tự do của cư dân người Việt sớm được khẳng định trên cơ sở những thành tựu vật chất và tinh thần ngày càng phát triển trong quá trình dựng nước và giữ nước trước đó. Ý chí đó ngày càng được bồi đắp vững chắc và phát triển trong quá trình bị nô dịch. Truyền thống dựng nước và giữ nước thấm sâu trong nhân dân như mạch nước ngầm trong lòng đất, nó bắt nguồn từ mỗi con người, từ mỗi làng xóm, lặng lẽ đổ vào biển cả tạo thành truyền thống của cả cộng đồng người Việt.

Từ đó, phải khẳng định rằng, độc lập chủ quyền là tài sản vô giá của mỗi dân tộc, để bảo vệ nó không thể không thực hiện bằng hành động đấu tranh chống các thế lực gây chiến, xâm lược. Ngay bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng lên tiếng đồng tình ủng hộ cuộc đấu tranh của các dân tộc chống lại sự can thiệp áp đặt từ bên ngoài dưới bất kỳ hình thức nào.

Người nói: “Dù có đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập” hay câu nói bất hủ trở thành chân lý của dân tộc bị áp bức “Không có gì quý hơn độc lập tự do” không chỉ là một khẩu hiệu chiến đấu mà là tiếng gọi thiêng liêng thôi thúc dân tộc Việt Nam và các dân tộc trên thế giới chiến đấu vì một thế giới hoà bình, ổn định và phát triển.

Điều này cũng có nghĩa, hoà bình và độc lập chủ quyền dân tộc là hai mục tiêu không thể tách rời nhau. Như “Người” đã nói, chúng ta phải đạt được nền hoà bình chân chính – “hoà bình thực sự, hoà bình trong độc lập tự do chứ không phải là thứ hoà bình giả hiệu”. Đó là mục tiêu cao cả không chỉ riêng dân tộc Việt Nam hướng đến mà của các dân tộc đang hướng đến trong thời đại ngày nay.

Và để giữ được hòa bình và độc lập chủ quyền, người Việt Nam quyết đánh đổi tất cả. Có lẽ, người Trung Quốc họ đã quên lịch sử của dân tộc Việt Nam và cả lịch sử xâm lược bị thất bại của chính họ mất rồi!

Tạp chí Bút danh

TIN MỚI